Quyền tác giả theo quy định của pháp luật hiện hành

Quyền tác giả được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả đối với tác phẩm. Mọi hành vi vi phạm quyền tác giả đều có thể bị xử lí vi phạm theo các trình tự thủ tục luật định.

Quyền tác giả (hay còn được gọi là bản quyền) là một quyền quan trọng, được pháp luật quy định rõ ràng nhằm điều chỉnh các hành vi có liên quan đến việc sở hữu, sử dụng,… tác phẩm. Thế nào là quyền tác giả? Quy định đó bao gồm những nội dung gì? Bài viết sau đây chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn đọc những nội dung cực kỳ quan trọng này theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (luật hợp nhất 2019) và các văn bản hướng dẫn hiện hành (cập nhật 2022).

Thế nào là Quyền tác giả

Quyền tác giả được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ như sau:

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu

Theo đó, quyền tác giả là quyền được pháp luật công nhận và bảo vệ. Không chỉ các cá nhân mà các tổ chức (chẳng hạn như doanh nghiệp, hội đoàn,…) đều có quyền tác giả. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền tác giả phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Quyền tác giả được xác định đối với một tác phẩm cụ thể. Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

Quyền nhân thân

– Đặt tên cho tác phẩm;

– Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

– Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

– Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Quyền tài sản

– Làm tác phẩm phái sinh;

– Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

– Sao chép tác phẩm;

– Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

– Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

– Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Giới hạn của quyền tác giả

– Chủ thể sở hữu bản quyền chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của pháp luật.

– Việc thực hiện quyền tác giả không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan.

– Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp;

Thế nào là tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm bao gồm:

– Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác
– Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

– Tác phẩm báo chí;

– Tác phẩm âm nhạc;

– Tác phẩm sân khấu;

– Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

– Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

– Tác phẩm nhiếp ảnh;

– Tác phẩm kiến trúc;

– Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;

– Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

– Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

– Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn. Tác phẩm phái sinh phải đảm bảo điều kiện không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

Copyrighted Material, Intellectual Property Copyright

Điều kiện được bảo hộ quyền tác giả

Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.
Như vậy, khi một chủ thể tạo ra tác phẩm và thể hiện nó dưới một hình thức vật chất mà con người có thể nhận thấy được thì quyền tác giả sẽ lập tức phát sinh. Tác phẩm được coi là có thể nhận thấy được nếu nó có thể cảm nhận được bằng các giác quan của con người như nhìn, nghe, cầm nắm,…

Khác với quyền sở hữu công nghiệp (như nhãn hiệu, sáng chế,..), quyền tác giả là một quyền tự động, chủ sở hữu của tác phẩm không cần phải thực hiện các thủ tục để đăng ký để xác lập quyền đối với tác phẩm. Tuy nhiên, chủ sở hữu cũng cần phải có các tài liệu, chứng cứ để có thể chứng minh mình là người sáng tạo ra tác phẩm hoặc là chủ sở hữu hợp pháp của tác phẩm. Do đó, dù không bắt buộc nhưng nhiều cá nhân, tổ chức vẫn thực hiện thủ tục đăng ký bản quyền tác giả cho các sản phẩm của mình để có căn cứ rõ ràng trong việc xác lập bản quyền của mình.

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Luật Sở hữu trí tuệ hiện nay quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả như sau:

Các quyền được bảo hộ vĩnh viễn (vô thời hạn)

Các quyền nhân thân sau được bảo hộ vô thời hạn:

– Đặt tên cho tác phẩm;

– Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

– Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Các quyền được bảo hộ có thời hạn

Các quyền nhân thân và quyền tài sản sau được bảo hộ có thời hạn:

– Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 75 (bảy mươi lăm) năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên;

– Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố (trong thời hạn 25 (hai mươi lăm) năm kể từ khi tác phẩm được định hình) thì thời hạn bảo hộ là 100 (một trăm) năm, kể từ khi tác phẩm được định hình;

– Đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính như sau: Tác phẩm không thuộc loại hình quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;

Lưu ý: Thời hạn bảo hộ này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.

Các hành vi xâm phạm quyền tác giả

– Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.

– Mạo danh tác giả.

–  Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả.

–  Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.

–  Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

–  Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này.

–  Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 của Luật này.

–  Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.

–  Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

–  Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

–  Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu bản quyền.

–  Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

–  Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.

–  Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

–  Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.

–  Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

Quyền tác giả là một quyền quan trọng để khuyến khích mọi người hoạt động sáng tạo các tác phẩm đa dạng, phong phú. Hiểu được quyền tác giả, các cá nhân, tổ chức sẽ bảo vệ được các lợi ích vật chất và tinh thần của mình trước những hành vi xâm phạm bản quyền của mình.

Nếu bạn cần tư vấn 24/7 vui lòng liên hệ